Để phiếu lý lịch tư pháp không bị lợi dụng

(TBKTSG) - Hội đồng khoa học Bộ Tư pháp vừa có phiên họp cho ý kiến tư vấn về định hướng xây dựng Luật Lý lịch tư pháp (LLTP) sửa đổi. Theo đó, các ý kiến tập trung nhiều vào việc sửa đổi làm sao để xóa bỏ hiện tượng các cơ quan, tổ chức “đòi” công dân cung cấp phiếu LLTP, nhất là phiếu LLTP số 2.

Để phiếu lý lịch tư pháp không bị lợi dụng

Quang Chung

Quyền yêu cầu cấp phiếu LLTP số 2 đang bị lạm dụng, làm ảnh hưởng đến quyền được pháp luật bảo đảm bí mật cá nhân mà Hiến pháp năm 2013 đã quy định và chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự.

(TBKTSG) - Hội đồng khoa học Bộ Tư pháp vừa có phiên họp cho ý kiến tư vấn về định hướng xây dựng Luật Lý lịch tư pháp (LLTP) sửa đổi. Theo đó, các ý kiến tập trung nhiều vào việc sửa đổi làm sao để xóa bỏ hiện tượng các cơ quan, tổ chức “đòi” công dân cung cấp phiếu LLTP, nhất là phiếu LLTP số 2.

Khi phiếu LLTP bị lạm dụng

Báo cáo về Dự án Luật LLTP sửa đổi, Giám đốc Trung tâm LLTP quốc gia Hoàng Quốc Hùng cho biết, sau sáu năm đưa vào áp dụng, đến nay Luật LLTP bộc lộ nhiều bất cập, không còn đáp ứng được thực tiễn cuộc sống.

Thật vậy, luật hiện hành quy định hai loại phiếu LLTP là phiếu LLTP số 1 và phiếu LLTP số 2. Phiếu số 1 cấp cho công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; Phiếu số 2 cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử và cấp theo yêu cầu của cá nhân.

Phiếu LLTP số 1 ghi các án tích chưa được xóa, không ghi các án tích đã được xóa và thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã chỉ được ghi vào khi cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu. Trong khi đó, phiếu LLTP số 2 ghi đầy đủ các án tích, cả án tích chưa xóa lẫn án tích đã được xóa, và thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.

Để cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP có thể thực hiện trách nhiệm trong việc cập nhật, xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích, thì Luật LLTP sửa đổi cần thiết phải quy định bổ sung trách nhiệm của cơ quan có liên quan trong việc cung cấp thông tin về việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.

Dựa vào quy định này, nhiều cơ quan, tổ chức yêu cầu người dân phải cung cấp cho họ phiếu LLTP số 2 khi giải quyết công việc. Hiện nhiều cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam yêu cầu các đương đơn xin thị thực định cư, thị thực hôn phu, hôn thê phải nộp phiếu LLTP số 2. Thậm chí một số doanh nghiệp cũng yêu cầu người lao động phải nộp phiếu LLTP số 2 khi tuyển dụng (để chứng minh cá nhân đó trong sạch).

Tổng hợp số liệu của Bộ Tư pháp cho thấy trong giai đoạn 2009-2012, các sở tư pháp chủ yếu cấp phiếu LLTP số 1, nhưng từ 2012 đến nay lại chủ yếu cấp phiếu LLTP số 2. Sự lạm dụng phiếu LLTP số 2 gây tốn kém cho xã hội, phiền hà cho người dân, bởi theo quy định, người dân muốn có phiếu LLTP số 2 phải trực tiếp đến cơ quan cấp phiếu để “xin” chứ không được ủy quyền cho người khác “xin”. Có không ít trường hợp để có phiếu LLTP số 2, du học sinh, người Việt làm việc ở nước ngoài... phải về nước để “xin”.

Nhưng quan trọng hơn, đó là, phiếu LLTP số 2 chứa đựng những thông tin thuộc dạng bí mật đời tư (án tích đã được xóa, hình phạt cấm kinh doanh đã được miễn...). Hiện nay, ngày càng có nhiều cơ quan, tổ chức lạm dụng quyền, yêu cầu người dân nộp bổ sung nhằm “nắm” được những thông tin thuộc về bí mật đời tư. Như vậy, mục đích quản lý LLTP là ghi nhận việc xóa án tích, tạo điều kiện cho người đã bị kết án tái hòa nhập cộng đồng và bảo đảm tôn trọng bí mật đời tư của cá nhân đã không đạt được.

Và, việc lạm dụng phiếu LLTP số 2 đã khiến các quy định về bảo vệ quyền con người của Hiến pháp 2013 và Bộ luật Hình sự 2015 (đang tạm hoãn thi hành) bị xâm phạm, đặc biệt đối với chế định đương nhiên được xóa án tích.

Giám đốc Trung tâm LLTP quốc gia Hoàng Quốc Hùng tổng kết: Quyền yêu cầu cấp phiếu LLTP số 2 đang bị lạm dụng, làm ảnh hưởng đến quyền được pháp luật bảo đảm bí mật cá nhân mà Hiến pháp năm 2013 đã quy định và chính sách nhân đạo của pháp luật hình sự; ảnh hưởng đến việc tái hòa nhập cộng đồng của người bị kết án, đặc biệt là những người đã được xóa án tích, gây khó khăn cho họ khi tham gia các quan hệ pháp lý. Đồng thời, việc yêu cầu một công dân cung cấp phiếu LLTP số 2 để chứng minh mình trong sạch cũng gây ra không ít phiền hà, tốn kém, lãng phí cho xã hội.

“Giải pháp” đương nhiên xóa án tích

Vì vậy, nguyên Thứ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thế Liên cho rằng, sửa đổi Luật LLTP lần này phải loại bỏ quy định bắt những người lương thiện - vốn chiếm số đông trong xã hội - phải chứng minh lý lịch mà chỉ cần họ cam đoan là được.

Theo Bộ Tư pháp, để giải quyết tình trạng lạm dụng phiếu LLTP số 2, cần thiết sửa đổi quy định của Luật LLTP về việc tiếp cận, sử dụng phiếu LLTP số 2. Bộ này đề xuất phải quy định chặt chẽ về hình thức của phiếu, về đối tượng được quyền yêu cầu cấp. Theo đó chỉ có cơ quan tiến hành tố tụng mới có quyền yêu cầu cấp phiếu LLTP số 2; còn cá nhân chỉ có quyền quan sát trên màn hình thông tin LLTP của mình và không được sao chép dưới bất cứ hình thức nào.

Một giải pháp khác cũng được các chuyên gia pháp luật đưa ra là thực hiện triệt để quy định đương nhiên xóa án tích. Hiện việc theo dõi vấn đề xóa án tích đương nhiên cho người bị kết án đã được Bộ luật Hình sự 2015 giao cho cơ quan quản lý dữ liệu LLTP (điều 70). Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 cũng quy định về thủ tục xóa án tích: Trong thời hạn năm ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại điều 70 thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP cấp phiếu LLTP là họ “không có án”.

Như vậy, trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP được đề cao và phải chủ động trong việc theo dõi, cập nhật thông tin về án tích, đặc biệt là phải chủ động trong việc tiến hành xác minh các điều kiện đương nhiên xóa án tích để bảo đảm đáp ứng thời hạn cấp phiếu LLTP liên quan đến trường hợp đương nhiên xóa án tích quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Nhưng Giám đốc Trung tâm LLTP quốc gia Hoàng Quốc Hùng cho biết đang có khó khăn trong việc cập nhật cơ sở dữ liệu LLTP, vì trung tâm hiện chỉ có thông tin từ khi một người bị kết án bởi một bản án có hiệu lực pháp luật, chứ không có thông tin về hành vi phạm tội cũng như quá trình tố tụng có liên quan.
Ông Đặng Thanh Sơn, Cục trưởng Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật, cho rằng phải làm được điều này (cập nhật cơ sở dữ liệu LLTP) mới thực sự là đổi mới về chất trong công tác LLTP. Cho nên, có ý kiến đề xuất sửa đổi Luật LLTP theo hướng cho phép cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP đề nghị cơ quan hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát, cơ quan có thẩm quyền thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cung cấp thông tin xác minh (chứ không yêu cầu Sở Tư pháp nơi người bị kết án cư trú tiến hành xác minh).

Nói chung, theo Bộ Tư pháp, để bảo đảm thống nhất, đồng bộ trong tổ chức thi hành quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 về giao trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP trong cập nhật, xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích, thì Luật LLTP sửa đổi cần thiết phải quy định bổ sung trách nhiệm của cơ quan có liên quan trong việc cung cấp thông tin về việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.

Phiếu lý lịch tư pháp (LLTP) là một tài liệu do sở tư pháp hoặc Trung tâm LLTP quốc gia cấp, có giá trị chứng minh một người có hay không có án tích; có bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập hay quản lý doanh nghiệp hay không.

LLTP của một công dân gồm hai nhóm nội dung thông tin: (i) Về án tích và tình trạng thi hành án; (ii) Về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập hay quản lý doanh nghiệp - trong trường hợp cá nhân có tham gia vào doanh nghiệp trước đó và đã bị tòa án tuyên bố phá sản.

Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP gồm Trung tâm LLTP quốc gia và sở tư pháp.

Phiếu LLTP gồm hai loại: (i) Phiếu LLTP số 1 và phiếu LLTP số 2.